Thời tiết khắc nghiệt do biến đổi khí hậu đã phá hủy 45% môi trường sống ven biển của Úc

Saturday, 03/08/2019, 18:03 PM

Một nghiên cứu mới được công bố trên Tạp chí Frontiers in Marine Science đã cho thấy một loạt các sự kiện khí hậu cực đoan đang gây tác động trên quy mô lớn đối với môi trường sống ven biển Australia.

Theo báo cáo của nghiên cứu, hơn 45% đường bờ biển đã bị ảnh hưởng bởi thời tiết khắc nghiệt do biến đổi khí hậu. Hơn thế nữa, các hệ sinh thái này đang phải vật lộn để phục hồi khi các hiện tượng thời tiết cực đoan được dự báo ​​sẽ còn tồi tệ hơn. Ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy sóng nhiệt, lũ lụt, hạn hán và lốc xoáy đang gia tăng về tần suất và cường độ và nguyên nhân là do biến đổi khí hậu.

Cuộc sống trên bờ biển

San hô, cỏ biển, rừng ngập mặn và tảo bẹ là một số loài chính hình thành nên môi trường sống trên bờ biển nước Úc, vì chúng tạo nên hệ sinh thái cho các loài động vật không xương sống, cá, rùa và động vật có vú trên biển.

Nhóm nghiên cứu đã xem xét giai đoạn từ 2011 đến 2017 với sự hiện hữu của cả hai điều kiện khí hậu El Niño và La Niña, và nhận thấy những sự kiện thời tiết khắc nghiệt này đã có tác động tàn phá đối với các quần thể sống trên biển của Úc. Một số loài cho tới nay vẫn chưa phục hồi và có thể sẽ không bao giờ phục hồi được. Những phát hiện này vẽ lên một bức tranh ảm đạm về môi trường và nhấn mạnh sự cần thiết phải hành động khẩn cấp.

Tảo bẹ là một phần quan trọng của chuỗi thức ăn nhưng rất dễ bị tổn thương bởi những thay đổi nhỏ về nhiệt độ và đặc biệt chậm phục hồi sau các rối loạn (Nguồn ảnh: SBS News | Russ Babcock)

Khu vực di sản bị ảnh hưởng

Nhiều khu vực bị ảnh hưởng không chỉ là mối lo ngại đối với riêng nước Úc mà còn có ý nghĩa toàn cầu do tính quy mô và sự đa dạng sinh học của chúng, và bởi vì trước đây chúng chưa từng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu. Trong số đó có những khu vực đã được công nhận là Khu vực Di sản Thế giới (như Rặng san hô Great Barrier, Vịnh Shark, Bờ biển Ningaloo).

Đồng cỏ biển ở Vịnh Shark nằm trong số những thế giới tươi tốt và rộng lớn nhất thế giới và giúp khóa một lượng lớn carbon vào trầm tích. Hình ảnh bên trái cho thấy cỏ biển khỏe mạnh nhưng hình ảnh bên phải cho thấy sự tàn phá do các sự kiện thời tiết khắc nghiệt gây ra trong năm 2011 (Nguồn ảnh: SBS News | Mat Vanderklif)

Các môi trường sống trên biển bị hủy hoại kéo theo nhiều hệ lụy. Đây là cơ sở cung cấp thức ăn và nơi trú ẩn cho một loạt các loài khác. Nhiều động vật bị ảnh hưởng – như cá và rùa lớn – từ đó gây thiệt hại cho các ngành công nghiệp thương mại như du lịch và đánh cá, cũng như gây ảnh hưởng về mặt văn hóa đối với nước Úc.

Môi trường tại các khu vực bị ảnh hưởng đã bắt đầu phục hồi, nhưng một số nơi có thể sẽ không bao giờ trở lại tình trạng như trước được. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các mô hình hệ sinh thái để đánh giá kết quả lâu dài có thể xảy ra từ các sự kiện thời tiết khắc nghiệt. Kết quả cho thấy ngay cả ở những nơi bắt đầu phục hồi, thời gian trung bình để phục hồi hoàn toàn là khoảng 15 năm. Những loài lớn phát triển chậm như cá mập và cá cúi có thể còn lâu hơn nữa, tới 60 năm. Trong khi đó, những sự kiện khí hậu cực đoan thì dưới 15 năm đã diễn ra một lần. Điều này sẽ dẫn đến sự suy giảm từng bước trong tình trạng của các hệ sinh thái vì khoảng cách thời gian giữa các sự kiện thời tiết khắc nghiệt là quá ngắn để môi trường có thể phục hồi hoàn toàn. Thực tế này đã diễn ra với các rạn san hô Great Barrier.

Tình trạng tẩy trắng san hô trên rạn san hô Great Barrier. Nhiều loài phụ thuộc vào san hô để làm thức ăn và nơi trú ẩn (Nguồn ảnh: SBS News | Damian Thomson)

Sự nóng lên toàn cầu là nguyên nhân chính

Thiệt hại từ các sự kiện thời tiết khắc nghiệt xảy ra do nhiệt độ trung bình tăng lên, chẳng hạn như sự biến mất của rừng tảo bẹ trên bờ biển đông nam Úc do sự lây lan của nhím biển và các loài cá nhiệt đới.

Bên cạnh việc hạn chế phát thải khí nhà kính khiến nhiệt độ toàn cầu tăng lên, điều cần thiết là phải nghiên cứu về tốc độ phục hồi và các yếu tố thúc đẩy sự phục hồi. Từ đó xây dựng các chương trình hành động hỗ trợ khôi phục các hệ sinh thái bị hủy hoại và giảm (hoặc lý tưởng nhất là dừng) tác động trực tiếp của con người tới môi trường.

Một số chương trình như vậy đang diễn ra trên khắp nước Úc và toàn cầu, trong nỗ lực tăng cường khả năng sinh tồn của san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn và tảo bẹ. Tuy nhiên cần thiết phải nhân rộng các mô hình này hơn nữa để đạt được hiệu quả đáng kể trong điều kiện những biến động thời tiết quy mô lớn đang và được dự báo sẽ diễn ra thường xuyên hơn với mức độ nghiêm trọng hơn.

PV Thu Hà

Thời tiết khắc nghiệt do biến đổi khí hậu đã phá hủy 45% môi trường sống ven biển của Úc
Vui lòng đánh giá bài viết

Leave your comment

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tin cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm